Trả lời PV Báo Điện tử VTC News tại họp báo thường kỳ do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức, TS. Trần Anh Tú, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, cho biết pháp luật hiện hành đã quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo, trong đó có các quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền, giám sát và trách nhiệm pháp lý trong quá trình thử nghiệm.
Theo TS. Trần Anh Tú, Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 đã quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Điều 21.
Tiếp đó, Nghị định số 142/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 quy định cụ thể tại Chương IV về nguyên tắc thử nghiệm, phân loại cấp độ thử nghiệm, thẩm quyền, trình tự chấp thuận, điều kiện và cách thức nộp hồ sơ tham gia, cũng như cơ chế giám sát và báo cáo khi kết thúc thử nghiệm.

Về thủ tục chấp thuận tham gia thử nghiệm, điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định 142/2026/NĐ-CP, trong khi thành phần và cách thức nộp hồ sơ được quy định tại khoản 2 Điều 24.
Về thẩm quyền, khoản 3 Điều 23 quy định các cơ quan tiếp nhận, thẩm định và ban hành giấy xác nhận tham gia thử nghiệm có thể gồm UBND các tỉnh, các bộ, ngành và Bộ Công an, tùy thuộc mức độ cũng như từng trường hợp được quy định trong nghị định.
Thời gian thẩm định hồ sơ hợp lệ và ban hành giấy xác nhận tham gia thử nghiệm được quy định tại khoản 5 Điều 23. Nội dung giấy xác nhận theo khoản 7 Điều 23 bao gồm phạm vi, địa bàn, thời gian và quy mô thử nghiệm; các giới hạn thử nghiệm; yêu cầu kỹ thuật về an toàn, an ninh, bảo vệ dữ liệu và những biện pháp quản lý rủi ro.
Cơ chế này cũng quy định trách nhiệm báo cáo, giám sát, các trường hợp tạm dừng, dừng hoặc chấm dứt thử nghiệm, cùng những nội dung liên quan đến việc miễn, giảm hoặc điều chỉnh yêu cầu tuân thủ.
Có quy định về trách nhiệm pháp lý trong quá trình thử nghiệm
Đối với vấn đề bảo hộ rủi ro pháp lý, TS. Trần Anh Tú cho biết khoản 6 Điều 21 của Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định về việc miễn trừ, loại trừ và trách nhiệm dân sự, hình sự, hành chính phát sinh trong quá trình thử nghiệm. Nội dung này dẫn chiếu sang Điều 22 và Điều 23 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Tuy nhiên, các tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt phạm vi, điều kiện thử nghiệm và các biện pháp quản lý rủi ro đã được xác định, cho phép trong giấy phép thử nghiệm.
“Pháp luật hiện nay cơ bản là quy định các thủ tục xem xét rồi giới hạn tất cả cho các trường hợp thử nghiệm”, TS. Trần Anh Tú nói.
Theo Phó Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, với các hệ thống AI tạo sinh của Việt Nam đáp ứng đủ điều kiện, cơ chế hiện hành tạo hành lang cho việc tham gia thử nghiệm, đồng thời có các quy định về bảo hộ trong quá trình thử nghiệm.
Tuy nhiên, phạm vi của cơ chế này được giới hạn rõ. Khoản 8 Điều 23 của Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định giấy xác nhận tham gia thử nghiệm chỉ có giá trị trong phạm vi thử nghiệm và không làm phát sinh quyền triển khai chính thức hệ thống thử nghiệm ngoài phạm vi đó.
Điều này đồng nghĩa những nội dung được áp dụng trong thời gian thử nghiệm không mặc nhiên tiếp tục được áp dụng sau khi thử nghiệm kết thúc. Việc hoàn thành giai đoạn thử nghiệm sẽ là bước chuyển sang một giai đoạn khác, trong đó các cơ chế miễn trừ trong quá trình thử nghiệm không đồng nghĩa với việc được miễn trừ sau thử nghiệm.
Như vậy, cơ chế Sandbox đối với AI được thiết kế theo hướng xác định rõ phạm vi, điều kiện và giới hạn thử nghiệm, đồng thời đặt ra các yêu cầu về an toàn, an ninh, bảo vệ dữ liệu và quản lý rủi ro. Với các hệ thống đáp ứng điều kiện, việc thử nghiệm được thực hiện trong phạm vi được cấp phép và chịu sự giám sát theo quy định.