Nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, yêu cầu tăng trưởng nhanh đi đôi với phát triển bền vững đặt ra đòi hỏi phải hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Vì vậy, việc thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần nâng cao năng lực tự chủ, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nêu rõ: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Đồng thời, đặt mục tiêu đến năm 2030, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế.
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế; Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.
Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
Tầm nhìn đến năm 2045, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

Phát biểu tại sự kiện chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh, thế giới đang bước vào một giai đoạn cạnh tranh chiến lược mới, trong đó công nghệ trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, vị thế và mức độ tự chủ của mỗi quốc gia.
Những chuyển động lớn về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, công nghệ lượng tử hay sản xuất thông minh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế toàn cầu, chuỗi cung ứng quốc tế và mô hình phát triển truyền thống.
“Trong bối cảnh đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là lĩnh vực hỗ trợ phát triển mà là nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững; là động lực nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của Nhân dân; là điều kiện để bảo đảm tự chủ, tự cường trong một thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nêu rõ.
TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia duy trì được tăng trưởng cao đều nhờ dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ vững chắc - Việt Nam không phải ngoại lệ.
Do đó, để nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng hai con số một cách bền vững, chúng ta phải dồn tổng lực cho cuộc cách mạng công nghệ trong nước, biến khát vọng thành hành động cụ thể.
“Bứt phá về công nghệ chính là chìa khóa để hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ XXI, đưa dân tộc bước lên tầm cao mới trên trường quốc tế”, TS. Trần Văn Khải nói.
Khơi thông các nguồn lực cho phát triển
Cùng với việc hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được hoàn thiện mạnh mẽ nhằm tháo gỡ các rào cản về nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ mới, hoạt động nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển cả về quy mô và chất lượng.
Năm 2025, số lượng công bố khoa học quốc tế của Việt Nam đạt hơn 25 nghìn bài, tăng 13,48% so với năm 2024. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế; Việt Nam đứng thứ 55 toàn cầu về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Hạ tầng số quốc gia tiếp tục phát triển mạnh mẽ khi hạ tầng 5G được mở rộng nhanh chóng; các trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây và hạ tầng số dùng chung tiếp tục được đầu tư mạnh.
Chuyển đổi số quốc gia chuyển biến rõ nét với tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình tăng mạnh; nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia được đưa vào vận hành hiệu quả; tỷ lệ người dân sử dụng định danh điện tử, chữ ký số và thanh toán số ngày càng tăng.
Kinh tế số hiện chiếm khoảng 14,02% GDP. Trong lĩnh vực AI, Việt Nam xếp thứ 45 thế giới, tăng 10 bậc so với năm 2022. Công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu khoảng 198 tỷ USD; xuất khẩu phần cứng, điện tử đạt khoảng 178 tỷ USD.
Những kết quả đó cho thấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện chất lượng sống của người dân.
Chính nhờ đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, nhiều mặt hàng xuất khẩu đã có vị trí cao trong xếp hạng thành tích xuất khẩu của thế giới như: Dệt may, da giày, điện tử, thủy sản, đồ gỗ và một số mặt hàng nông sản khác như cà phê, hồ tiêu, gạo..
Việt Nam cũng đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia với nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao, thuộc vào nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao.
Theo kết quả thống kê, năm 2024 - 2025, đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng của ngành Công Thương tăng mạnh (khoảng 4,9%) và đóng góp gần 60% vào tăng trưởng giá trị gia tăng của toàn ngành, trong khi đóng góp của vốn và lao động giảm rõ rệt.
Theo các chuyên gia, để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển, điều quan trọng nhất hiện nay là phải khơi thông các nguồn lực trong toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Đó là nguồn lực trí tuệ của đội ngũ nhà khoa học và chuyên gia; nguồn lực đầu tư và năng lực tổ chức của doanh nghiệp; tiềm năng nghiên cứu, đào tạo của các viện nghiên cứu và trường đại học; sức sáng tạo, tinh thần dấn thân của thế hệ trẻ Việt Nam; nguồn lực về thể chế, dữ liệu, hạ tầng và hợp tác quốc tế, nơi mà nhà nước đóng vai trò kiến tạo.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, không có quốc gia đổi mới sáng tạo mạnh nào mà không xây dựng được một hệ sinh thái thông thoáng, cởi mở và khuyến khích sáng tạo.
Nếu nhà khoa học không được trao quyền và không có môi trường thuận lợi để sáng tạo, sẽ khó có đột phá công nghệ. Nếu doanh nghiệp không đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nền kinh tế sẽ mãi ở vị trí gia công và phụ thuộc.
Nếu các trường đại học và viện nghiên cứu không gắn với thực tiễn và nhu cầu thị trường, tri thức sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nếu Nhà nước không có cơ chế đầu tư, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính sẵn có, sẽ không tạo được những đột phá mới.
Nếu xã hội không coi trọng tri thức, không khuyến khích sáng tạo, thì sẽ rất khó hình thành một quốc gia đổi mới sáng tạo thực sự.
Do đó, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý khoa học và công nghệ. Nhà nước không chỉ quản lý mà phải kiến tạo phát triển; không chỉ kiểm soát rủi ro mà phải tạo không gian cho đổi mới sáng tạo; không chỉ hỗ trợ nghiên cứu mà phải thúc đẩy hình thành thị trường công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.